Join MultiplyOpen a Free ShopSign InHelp
MultiplyLogo
SEARCH

Giao Su TRAN VAN KHE

ĐƯỜNG GHI

Posted by truongca on May 15, '12 8:25 AM for everyone

Phút trải lòng với Bến Tre…

Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012 đã tưng bừng diễn ra với nhiều hoạt động, thu hút hàng ngàn lượt khách từ nhiều nơi trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu. Có người đã biết nhiều về Bến Tre, có người cũng chỉ vài lần đến đây, và cũng có người lần đầu tiên có dịp đặt chân về xứ dừa. Mỗi người có một cách nhìn nhận, cảm nghĩ riêng về quê hương “ba đảo dừa xanh”, nhưng không ai phủ nhận rằng “nói đến dừa là nhắc đến Bến Tre”. Trong dịp về tham dự Festival Dừa Bến Tre lần này, Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê và Nhà sử học Dương Trung Quốc - hai trong nhiều nhiều vị khách quý phương xa đã có phút trải lòng về người và dừa Bến Tre.

Giáo sư Trần Văn Khê: Bồi hồi gặp lại Bến Tre

Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê hiện là thành viên danh dự của Hội đồng Quốc tế UNESCO, Viện sĩ thông tấn Hàn lâm viện châu Âu Khoa học-Văn chương và Nghệ thuật. Giáo sư đã tham gia quảng bá và biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam hơn 40 nước trên thế giới. Nay ông đã trở về sinh sống tại Việt Nam và tiếp tục công tác nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam và tham gia giảng dạy, quảng bá âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Image
Giáo sư Trần Văn Khê (Ảnh: baodatviet.vn)

Về thăm lại Bến Tre, tham dự Festival Dừa lần này, Giáo sư chia sẻ: Tôi cảm thấy trong lòng rất vui và bồi hồi nhớ về kỷ niệm ngày nào. Hơn 50 năm về trước, tôi đã từng gắn bó với quê hương Bến Tre bằng nghề dạy học. Sau giải phóng đến nay, tôi đã đi nhiều nơi trong nước và quốc tế nhưng tôi chưa có dịp trở lại đây. Hôm nay, về lại nơi chốn một thời mình đã từng gắn bó nên tôi có rất nhiều cảm xúc. Đặc biệt là tôi cảm thấy rất vui vì sự đổi mới đến không ngờ của Bến Tre - một vùng đất đã chịu nhiều ảnh hưởng, mất mát trong chiến tranh. Từ đường phố, nhà cửa đến nơi công cộng (công viên, chợ búa…) đều đã đổi mới, văn minh. Điều đáng ghi nhận nữa là người dân Bến Tre vẫn luôn gắn bó với cây dừa và cây dừa đang ngày càng được phát huy giá trị. Tất cả các bộ phận của dừa, từ trái dừa đến lá dừa, thân dừa, gáo dừa… đều có giá trị sử dụng, trong công nghiệp, trong mỹ thuật, trong văn hóa ẩm thực … và thậm chí là làm nên nhạc cụ dân tộc. Qua đó, tôi nhận thấy rằng, cây dừa là loại cây không chỉ có giá trị cao về kinh tế mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống văn hóa tinh thần của những địa phương trồng dừa, nhất là Bến Tre.

Riêng Festival Dừa Bến Tre được tổ chức lần này, tôi nghĩ đây là dịp thuận lợi để giới thiệu rộng rãi đến bạn bè trong nước và quốc tế về quê hương Bến Tre, về cây dừa và chuỗi sản phẩm dừa của Bến Tre. Đồng thời, Festival cũng đã tôn vinh giá trị của cây dừa, người trồng dừa, và chia sẻ những thuận lợi khó khăn của quê hương xứ dừa trên đường phát triển và hội nhập. Festival cũng sẽ giúp cho Bến Tre có thêm cơ hội phát triển về du lịch, ngoại giao…

Dù sức khỏe của ông không nhiều do tuổi cao (91 tuổi) nhưng ông cho biết, ông vẫn cố gắng tham dự đến cuối Festival để chia vui cùng nhân dân Bến Tre, tham quan các sản phẩm dừa, ẩm thực dừa và trò chuyện cùng người dân xứ dừa.

Ánh Nguyệt 

(Theo http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=12053&Itemid=44)



Posted by truongca on Apr 29, '12 1:55 PM for everyone

Chúng tôi tình cờ đọc được một vài lời tâm sự ngẫu hứng vui vui, dễ thương của một bạn trẻ miền Bắc trên một trang blog khá art. Thôi, cứ tạm gọi bạn là "Lượm" theo như tên blog của bạn vậy nhé! Bạn trẻ này có một sự liên tưởng qua lại về GS Trần Văn Khê và Nhã nhạc cung đình Huế (ắt hẳn hai bên cũng có nét tương đồng, đều là... báu vật quốc gia, cũng là văn hóa truyền thống cực kỳ quan trọng của Việt Nam...) cùng sự ngưỡng mộ dành cho tính cách quý trọng giới trẻ, luôn luôn lắng nghe, đồng thời sẵn sàng trả lời những khúc mắc của tuổi trẻ chừng nào... bằng hết mới thôi của vị Giáo sư già! Chắc chắn rằng bạn "Lượm" là một trong số những thanh niên có mặt trong buổi lễ trao giải thưởng Phan Châu Trinh tại Hà Nội tháng 3 vừa rồi, là một trong số những bạn trẻ "bao vây" Thầy để chụp ảnh chung và cố gắng tranh thủ hỏi Thầy những điều các bạn còn đang băn khoăn chưa có lời giải đáp, sau buổi trao giải hoàn mãn. Đúng như lời bạn nói, Thầy Khê là "người lớn" duy nhất trong buổi lễ chịu khó ngồi nán lại trong khán phòng đã vắng hết người, chỉ để trả lời phỏng vấn của phóng viên đồng thời đáp lại sự hâm mộ của các bạn trẻ, bất chấp thời tiết trở lạnh và còn không biết có cả một... buổi tiệc đứng ngoài trời để chiêu đãi quan khách tại buổi lễ, mọi người đang náo nhiệt ngoài kia!!! Thầy vẫn an nhiên, tự tại, từ tốn trả lời hết câu này đến câu khác giống như đã lâu rồi không được chia sẻ vốn tri thức hiểu biết cho thế hệ trẻ, có lẽ càng nói thì Thầy càng không thấy đủ! 


Qua bài viết ngẫu hứng này, chúng tôi muốn gởi đến quý vị và các bạn một khía cạnh khác nữa trong con người GS Trần Văn Khê đối với thế hệ con cháu của mình, từ đó mới hiểu rằng vì sao ông là người đã gần bách niên rồi mà vẫn có sức hấp dẫn, thu hút, gần gũi một cách kỳ lạ đối với những người trẻ thời đại @, hi-tech vốn có những tư tưởng rất mới và rất thoáng trong thế giới đang ngày một... phẳng dần ra?


(Một người chứng kiến từ đầu chí cuối câu chuyện "An nhiên tự tại")

----------------------------------------------------------------------------------

An nhiên tự tại


Hồi năm thứ 2 hay năm thứ 3 gì đó, cả lớp đang học thì bị “lùa” lên tầng 8 nhà E để xem nhã nhạc cung đình. Đến bây giờ mình vẫn thấy tiếc cho những ai trốn không xem. Cũng không nhớ là hôm đó có GS Trần Văn Khê không. Nhưng từ hồi biết ông đến bây giờ, mình luôn có sự liên tưởng qua lại giữa GS Trần Văn Khê và nhã nhạc cung đình Huế.

GS Trần Văn Khê sau lễ trao giải văn hoá Phan Châu Trinh. Hà Nội, sáng 24/3/2012.
GS Trần Văn Khê sau lễ trao giải văn hoá Phan Châu Trinh. Hà Nội, sáng 24/3/2012.

Cơ hội đến khi “người lớn” đã ra ngoài sân hết, chỉ còn mỗi giáo sư ngồi trong hội trường trả lời phỏng vấn của mấy bạn trẻ. Nhưng các bạn này hỏi dai quá mà giáo sư lại quá nhiệt tình. Thế là phải nhờ bạn Loan béo ra “dẹp”, và nhờ bạn Dương Xuân Quang chỉnh lại cái màn chiếu đằng sau. Ngoài ra, không thể không kể tới hai bạn Thất Học và Phạm Kiên đã thay mình hoàn thành các nhiệm vụ chính trị trong buổi sáng cùng ngày. Bức ảnh trên có được là vì thế.

(Bài viết & hình ảnh trên blog "Lượm" - Hà Nội 25/03/2012)

-------------------------------------------------------------------------------------

MỘT VÀI HÌNH ẢNH 

"NGƯỜI THIỆT VIỆC THIỆT" 

(Photos: Một bạn PV báo Tiền Phong)


Posted by truongca on Apr 16, '12 7:21 AM for everyone

Suốt đời vì âm nhạc dân tộc


 “Xét lại quá trình làm việc của mình, tôi đã từng cứu sống lại những bộ môn tưởng đã tàn rụi tựa cây khô thiếu nước như nghệ thuật ca trù, chầu văn, nhạc cung đình Huế”, GS Trần Văn Khê nói.

 


Chuyên gia UNESCO phỏng vấn GS Trần Văn Khê về nhạc dân tộc - Ảnh: Trinh Nguyễn chụp lại từ tư liệu của GS Khê

Vào “sổ đen” vì nhạc dân tộc

“Qua truyền hình trực tiếp đêm giao thừa, chúng tôi muốn dành tặng người có công với cồng chiêng Tây nguyên - GS Trần Văn Khê bài chiêng này”. GS Tô Ngọc Thanh dứt lời cũng là lúc dàn cồng chiêng Gia Lai lên tiếng. GS Trần Văn Khê lặng người trước màn hình, khóc lặng lẽ. Hai bàn tay thuộc không biết bao nhiêu ngón đàn bám chặt vào thành ghế của chiếc xe lăn.

“Thời điểm đó là giao thừa năm 2006, khi không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên vừa trở thành di sản văn hóa thế giới”, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền nhớ lại.

“Tôi rất bất ngờ và cảm động khi biết mình nhận được một giải thưởng thật cao quý mang tên chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, vị tiền bối tôi ngưỡng mộ từ nhỏ qua một người thân”, vị giáo sư nói trong diễn văn đáp từ ngày trao giải. “Lúc 5 tuổi, tôi đã có dịp chứng kiến cô Ba vì tỏ lòng quý trọng người yêu nước thương dân mà tham dự lễ quốc tang chí sĩ Phan Châu Trinh tổ chức rộng rãi ở khắp ba kỳ năm 1926. Sau đó cô bị chính quyền nhà nước Pháp thuộc thời bấy giờ cho thôi việc”.

 

Giờ đây, ông sống an nhiên chỉ trừ một điều - đưa âm nhạc vào học đường, để cho các em nhận biết được những vấn đề cơ bản trong âm nhạc truyền thống

Có lẽ những ngày niên thiếu với người cô ruột yêu nước đã phần nào tạo nên lòng yêu nước “bướng bỉnh” của ông. Trong cuộc đời mình, không chỉ một lần, vì yêu nước, yêu nhạc dân tộc mà GS Khê gặp khó khăn. Nhưng không lần nào ông chịu từ bỏ tình yêu đó.

Năm 1949, do tham gia kháng chiến bị lộ nên ông sang Pháp để “tạm lánh”. Chàng thanh niên Trần Văn Khê khi đó không thuộc diện cấp học bổng. “Chỉ có cách nếu tôi làm đơn khai là nạn nhân chiến tranh ở đất thuộc địa... Tôi không đồng ý làm đơn, vì tôi hưởng ứng chiến tranh giành độc lập cho dân tộc chứ không phải là nạn nhân chiến tranh”, GS Khê nhớ lại.

Ít lâu sau, cơ hội học bổng của Trường Michigan (Mỹ) lại đến. Cùng lúc, ông có cơ hội dự Đại hội Thanh niên tổ chức tại Budapest (Hungary). Chàng thanh niên đã đến Budapest để giới thiệu âm nhạc truyền thống của nước Việt Nam đang tranh đấu giành tự do.

“Khi qua tới nơi, đoàn đại biểu các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Liên Xô mang theo lực lượng hùng hậu”, GS Khê viết trong hồi ký. Còn ông, lên sân khấu chỉ với cây đờn cò và đờn tranh vô cùng khiêm tốn.

“Tôi vừa biểu diễn vừa cắt nghĩa cách sử dụng các cây đờn, đờn cò “đổ hột” thế nào, nhấn, vuốt, rung ra sao; giới thiệu đờn tranh có thể nhấn từ nửa bậc đến một bậc, hai bậc, hai bậc rưỡi trên một dây, có nhấn rung, nhấn vuốt, nhấn mổ...”.

Kết quả, đoàn Việt Nam đứng hạng nhì. Cờ Việt Nam là một trong số ít cờ được kéo lên tại liên hoan đó. Khi trở về Pháp, ông bị ghi tên vào sổ bìa đen của chính quyền sở tại. Học bổng du học Mỹ cũng chính thức đóng lại.

Mong ước đưa âm nhạc dân tộc vào nhà trường

 

GS Trần Văn Khê sinh năm 1921 tại Mỹ Tho (Tiền Giang). Cuối năm 1954, ông theo học và làm luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Đại học Sorbonne, Paris (Pháp).

Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng quốc tế âm nhạc, 1981; huy chương về Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hóa Pháp, 1991; giải thưởng quốc tế Koizumi Fumio của Nhật; Huân chương lao động hạng nhất của nước CHXHCN Việt Nam, 1999; giải thưởng của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, 2011...

Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật; thành viên danh dự suốt đời của Hội đồng quốc tế âm nhạc thuộc Unesco...

Nhưng âm nhạc lại mở cho ông con đường về nhà khác, bất ngờ hơn và cũng vô cùng danh giá. Năm 1993, Tổng thống Pháp François Mitterrand đã mời ông vào phái đoàn Pháp cùng đi trong chuyến công du chính thức sang Việt Nam.

GS Khê dù ở trong phái đoàn Pháp nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam.

Kết thúc chuyến đi, trở về Pháp, ông được Chính phủ Pháp hỏi ý kiến về một chính sách với Việt Nam thiết thực và có hiệu quả hơn. Ông viết một báo cáo ngắn gọn trong đó có đưa ra đề xuất cấp học bổng cho người Việt Nam, đề xuất những hoạt động âm nhạc, trao đổi văn hóa giữa hai nước.

Tháng 4.2004, ông về nước giảng dạy tại Trường tiểu học Trần Hưng Đạo, thể nghiệm chương trình “Đem âm nhạc dân tộc vào cấp tiểu học tại châu Á”, do UNESCO tài trợ. Học trò được học cách sử dụng nhạc khí, hát ru, đồng dao, hò vè.  Sau đó, các em học đến các chữ nhạc hò, xự, xang, xê, cống. Khi đã chép nhạc thuần thục theo phong cách truyền thống, các em học chép nhạc theo phương Tây.

Chương trình thể nghiệm này sau đó được bà Tereza Wagner, Trưởng phòng Nghệ thuật và Kế hoạch văn hóa của UNESCO giới thiệu tại Lisbon, Bồ Đào Nha trong chương trình về thể nghiệm nhạc truyền thống. Đáng tiếc, sau đó ở trong nước, chương trình đã không thể tiếp tục thực hiện.

Tháng 10.2005, UBND TP.HCM chính thức giao cho ông một căn nhà. Từ đó GS Trần Văn Khê sống trong nước, nghiên cứu, nói chuyện cũng như chuyển giao dần các tư liệu mà mình đã tích góp trong nhiều năm cho thế hệ sau.

Giờ đây, ông sống an nhiên chỉ trừ một điều - đưa âm nhạc vào học đường, để cho các em nhận biết được những vấn đề cơ bản trong âm nhạc truyền thống. Như thế, trong thời buổi toàn cầu hóa, khi lằn ranh địa lý cũng như văn hóa không còn khép kín thì các em có thể tự hào về nền văn hóa Việt nói chung một cách chính xác. “Đây là một trăn trở nhiều nhất mà tôi chưa thực hiện được vì còn phụ thuộc nhiều yếu tố ngoài tầm tay của mình”, ông nói trong lễ nhận giải Phan Châu Trinh. 

Trinh Nguyễn

(Theo Thanh Niên ngày 15.04.2012)

Link:

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120414/suot-doi-vi-am-nhac-dan-toc.aspx


Posted by truongca on Mar 24, '12 1:04 PM for everyone

Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh 2011

Nguyên do của niềm vinh dự

Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh 2011 được quyết định trao tặng sáu cá nhân với bốn giải thưởng trên các lĩnh vực văn hoá – giáo dục, dịch thuật, Việt Nam học và nghiên cứu.

Ngoài giải Dịch thuật thuộc về ông Nguyễn Văn Khoa như SGTT ngày 19.3 đã giới thiệu, giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục được trao cho ông Nguyễn Sự, bí thư TP Hội An; giải Nghiên cứu được trao cho GS.TS Trần Văn Khê và PGS Nguyễn Thạch Giang. Giải Việt Nam học được trao cho hai nhà Việt Nam học nước ngoài gồm ông Alain Ruscio (Pháp), và P. V. Pozner (Nga). Lễ trao giải sẽ diễn ra lúc 9 giờ ngày 24.3 tại Hà Nội, đúng ngày giỗ cụ Phan Châu Trinh. Ba chủ nhân của giải thưởng đã bày tỏ nguyên do đưa họ đến với vinh dự này.

Dịch giả Nguyễn Văn Khoa

Học lại từ cái nôi văn hoá nhân loại

Tại sao tôi lại chọn Cổ Hy Lạp, tại sao lại chọn Socrates?

Thứ nhất: hãy đoạn tuyệt với thứ văn hoá độc canh hay đơn sắc; hãy đoạn tuyệt với loại “tư duy duy nhất”. Có những nền văn minh tự xem mình là cái rốn của vũ trụ; chúng ta đều biết chúng đã có số phận nào.

Thứ hai: hãy đoạn tuyệt với những cổ võ “về nguồn”, cho tâm thức luôn luôn lo sợ “mất bản sắc”, cho những mộng mị khư khư “bảo tồn văn hoá dân tộc”. Việt Nam ta không có hãnh diện được là một chiếc nôi của văn minh nhân loại. Ta không có chiếc nôi hoành tráng nào để trở về cả. Có nhiều nét văn hoá ta cứ ôm cứng vì ngỡ là của mình, xem kỹ lại hoá ra là bị áp đặt bởi kẻ khác. Hãy “chấn dân khí”. Đất Pháp cũng không phải là một chiếc nôi của văn minh nhân loại: người Pháp viết bằng chữ cái Latinh, tính toán bằng số Arập. Điều đó không ngăn cản họ cống hiến cho nhân loại bao giá trị văn hoá lớn lao sau này.

Thứ ba: đừng để bị cầm tù bởi ý niệm “bản sắc văn hoá”. Nhà văn Nguyên Ngọc nhận định: “Bản sắc không đứng yên, một lần là xong, một lần cho mãi mãi, mà biến đổi, cập nhật”. Paul Ricoeur xem “bản sắc văn hoá” là một biến số lịch sử; ông đặt tên nó là “bản sắc trần thuật (tự sự)” rồi đặt nó đối lập trực diện với cái ý tưởng có một bản sắc bất biến...

Thứ tư: đất nước ta may mắn có hàng ngàn cây số bờ biển, nhưng chúng ta chỉ mới nói đến kinh tế biển gần đây thôi. Hãy nhìn xa hơn những vấn đề kinh tế dù thiết yếu, mà nghĩ thêm về văn hoá biển – văn hoá ra khơi. Đã nghĩ tới chuyện hậu dân sinh, hãy hạ quyết tâm khai dân trí. Chúng ta đã “giải phóng đôi vai và đôi tay”; hãy tự giải phóng nốt cái đầu, hãy “tự lực khai hoá” tiếp. Tự nhiên, mỗi công trình phiên dịch sẽ là một chiếc thuyền vượt trùng dương, để chở về bao giá trị lạ lẫm nhưng hay đẹp, hữu ích.

Thứ năm: tôi tin rằng chúng ta cần học hỏi rất nhiều từ phương Tây. Thử nhìn quanh ta mà xem. Internet, điện thoại di động, thiết bị thu hình – phát sóng, ôtô, máy bay, xe lửa cao tốc, thuyền đại dương, tàu không gian v.v.. Bao nhiêu thứ mỗi ngày vây quanh ta, là bấy nhiêu sản phẩm kinh tế gốc gác từ đây. Nhưng sức mạnh kinh tế của phương Tây chỉ là phần nổi của tảng băng, cái làm cho sức mạnh kinh tế ấy nổi cao như núi, nghĩa là cái phần chìm của băng sơn này, chính là những giá trị văn hoá – trong đó có tư duy lý tính, có tinh thần phê phán, có tư tưởng tự do, có tư tưởng dân trị.

Và Cổ Hy Lạp chính là chiếc nôi của nền văn hoá ấy. Và Socrates chính là triết gia đầu tiên của dòng triết học muốn áp dụng lý tính vào mọi vấn đề con người, là nạn nhân đầu tiên của cuộc xung đột: triết học chống tôn giáo, phê phán chống bảo thủ, chuyển biến chống bất động... trong thời Cổ Hy Lạp ấy.

GS.TS Trần Văn Khê

Khơi dậy ý thức công dân từ thơ bé

Tôi rất ngạc nhiên và vô cùng hãnh diện khi được thông báo tôi đã vinh hạnh ở trong số những người được trao tặng giải thưởng Nghiên cứu của quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh năm 2011.

Nói là ngạc nhiên và hãnh diện vì tôi không cần phải làm bất cứ hồ sơ, đơn từ nào để được xét trao giải. Các công trình nghiên cứu của tôi trong nhiều năm qua ở Pháp cũng như ở Việt Nam đã được các vị có trách nhiệm ở quỹ tự đề xuất, sưu tầm, xem xét cẩn trọng và có quyết định về giải trước khi trao đổi với tôi để đi đến công bố.

Tôi cũng rất hãnh diện vì giữa cá nhân tôi và nhà yêu nước — nhà văn hoá lớn Phan Châu Trinh đã có một mối dây liên hệ khá đặc biệt, mặc dù tôi chưa từng có vinh hạnh được gặp cụ Phan lần nào. Chuyện là, người cô ruột của tôi là bà Trần Ngọc Diện nguyên là giáo viên dạy âm nhạc (đàn tranh) và thêu thùa của trường nữ Áo Tím ở Sài Gòn, do đã cùng các đồng sự tham gia đám tang Phan Châu Trinh nên bị nhà trường bãi dụng. Sự kiện ấy đã gây chấn động và gieo vào tâm hồn thơ trẻ của tôi, tuy còn mơ hồ, ý thức trách nhiệm mà mỗi công dân cần có đối với quốc gia của mình. Chính từ ý thức mơ hồ từ thời thơ bé ấy mà khi ở tuổi trưởng thành tôi đã tự nguyện gần gũi với những người yêu nước trong kháng chiến chống thực dân Pháp, được khích lệ và đã theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu, quảng bá âm nhạc dân tộc suốt cả cuộc đời mình.

Bí thư Thành uỷ Hội An Nguyễn Sự

Nồi chè tiếp biến văn hoá

Cho phép tôi kể một câu chuyện nhỏ rất bình thường ở Hội An, có thể giúp ta suy nghĩ thêm hình như không chỉ về Hội An, mà cả về văn hoá, cũng không chỉ văn hoá Hội An, mà là văn hoá nói chung.

Một trong những món ăn được nhiều người ưa thích ở Hội An là món chè đậu ván của hai chị em nghèo, chỉ bán về đêm, khoảng từ chín, mười giờ, cho đến đúng khuya. Người chị gánh gánh chè nhẹ tênh từ trên đầu phố thong thả đi xuống, người em gánh cũng nhẹ tênh từ cuối phố thong thả đi lên, tới lúc gặp nhau thì chè vừa hết, và cánh cửa cuối cùng của những ngôi nhà cổ phố Hội cũng vừa khép lại. Chè đậu ván của hai bà đặc sắc ở chỗ nước thì trong veo không chút gợn mà ngọt thanh và dịu, còn các hạt đậu thì mịn bâng mà lại còn nguyên, không hề vỡ, thậm chí một vết rạn nứt nhỏ cũng không [...]

Bí quyết của món chè này, theo tôi được biết, là ở cách pha nước đường: hai bà dùng loại đường bát vốn quen thuộc ở các làng quê xứ Quảng, không biết quý vị đã biết thứ đường ấy chưa, nước mật trong chảo còn ở trạng thái thô nhất, chưa lọc chút tạp chất nào, đang sôi sùng sục, chín tới một độ nào đó thì được đổ ra những cái bát cũng thô như vậy, để cho nguội đi, đặc quánh lại, màu đen xỉn, hai bát đường úp vào nhau, quấn rơm và đem bán ở chợ, hoặc bán cả cặp, hoặc từng bát, cũng có khi chẻ ra từng góc bán cho các bà mẹ đi chợ mua quà về cho con. Loại đường quê mùa nhất, thô sơ nhất, nghèo hèn nhất, bình dân nhất, đứng ở bét bảng xếp hạng của họ nhà đường. Đường ấy pha với đường phèn, tức là nghịch lý tột cùng, đường phèn đứng đầu bảng chót vót, là kim cương của đường, là đường vua, quý phái, vương giả. Chính sự pha trộn bất ngờ, tài tình và mầu nhiệm, mà cũng giản dị ấy của hai bà bán chè đêm Hội An đã tạo nên bí quyết của chè đậu ván kỳ diệu là đặc sản lâu đời của thành phố chúng tôi.

Ảnh: T.L

Tất nhiên hai chị em bà bán chè vô danh những đêm khuya phố Hội không hề nói, thậm chí chắc cũng không hề biết đến từ “bí quyết”, càng không nghĩ về triết lý chè của hai bà. Bởi vì quả thật ở đây có một triết lý sâu xa, và cái triết lý ấy đã thấm đâu đó trong máu của hai bà, của mỗi con người Hội An. Tôi cho triết lý cơ bản, hay là bản lĩnh chủ yếu của Hội An là vậy, đã giúp thành phố chúng tôi trải bao trầm luân và thách thức, cả những thách thức gay gắt và hỗn hào hôm nay của kinh tế thị trường đang hoang dã, vẫn vừa đi được cùng thiên hạ, không đến mức ở những hàng sau, và vẫn bình tĩnh là mình trong biến đổi không ngừng.

Đó là bản lĩnh kết hợp được một cách hoàn toàn, nhẹ nhàng như không, những đối lập gay gắt nhất, cực đoan nhất, để làm ra cái kỳ diệu bình thường hay cái bình thường kỳ diệu...

(Theo SGTT.VN)



Posted by truongca on Mar 24, '12 12:44 PM for everyone

6 gương mặt tiếp nối sự canh tân


Họ là nhà văn hóa thực hành, người cảnh báo đoạn tuyệt với văn hóa độc canh, người dẫn đường tận tụy, người tái khám phá tâm hồn dân tộc, người giúp Việt Nam hiểu lịch sử từ nguyên sơ hay và nhà sử học dấn thân.

Đây là những gương mặt nhận giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 5. Giải thưởng này khuyến khích, tôn vinh các công trình nghiên cứu văn hóa đặc sắc; tổ chức đào tạo và phổ biến các giá trị văn hóa Việt Nam, thế giới.

Giải thưởng đặt theo tên của nhà văn hóa Phan Châu Trinh, người có chủ trương xây dựng từng cá nhân tự chủ, đến toàn dân tộc ý thức tự chủ hay ông gọi là tự trị bằng con đường chắt lọc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại qua khẩu hiệu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Trăm năm đã đi qua, nhưng tư tưởng Phan Châu Trinh vẫn còn nguyên giá trị, thậm chí trong thế giới đang chuyển động bão táp ngày nay, càng trở nên cập nhật, cấp thiết hơn.

Những hình ảnh trong lễ trao giải sáng nay, 24/3 tại Hà Nội.

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Chủ tịch nước, hậu duệ của nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, trao giải thưởng cho 6 cá nhân 

Dịch giả Nguyễn Văn Khoa (sinh năm 1944) nhận giải với dịch phẩm Đối thoại Socratic 1, Plato.Ông được đào tạo về Xã hội học và Thông tin thư viện tại Paris, nguyên là Quản đốc Thư viện ĐH Paris VIII (1970-2007), và phụ trách giảng dạy Khoa học thông tin ở trường này năm 1975-1995.

Nhà văn Nguyên Ngọc: Nguyễn Văn Khoa khẳng định mạnh mẽ cần đoạn tuyệt với thứ văn hóa độc canh, với lo sợ nơm nớp mất bản sắc khi hội nhập, và những mộng mị khư khư bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc…, bởi vì, theo anh, bản sắc văn hóa không phải là một hằng số, nó là một biến số lịch sử, được định nghĩa không phải bằng cái đồng nhất và cố định mà bằng cái chuyển biến, không đơn sắc mà tồn tại, bừng nở và chỉ có thể bừng nở bằng “sự tỏa sáng đan chéo của các nền văn hóa”.


Giải nghiên cứu được trao cho ông Trần Văn Khê (sinh năm 1921 tại Mỹ Tho, Tiền Giang) nhờ những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu và quảng bá Âm nhạc dân tộc trong hơn 50 năm

Nhà văn Nguyên Ngọc: GS Trần Văn Khê đã tái khám phá nền âm nhạc ấy dưới ánh sáng của âm nhạc học hiện đại, khiến cho nó vừa độc đáo bản địa lại vừa có thể trở thành một bè đậm đà trong hòa âm chúng của nhân quần rộng lớn.

 Điểm đặc biệt nổi bật của Trần Văn Khê là ông hết sức đặc sắc Việt Nam trong môi trường âm nhạc quốc tế, lại quốc tế trong cái nhìn và cách xử lý vốn âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ở ông, truyền thống và hiện đại không đối lập. Vấn đề không phải là khư khư giữ chặt một cái gì đó được coi là bản sắc truyền thống bất biến, mà lạ tạo nên bản sắc hiện đại bằng tất cả bản lĩnh được tích lũy lâu dài để đứng vững và phát triển hôm nay.


Ông Nguyễn Sự (sinh năm 1957 tại Hội An), Bí thư thành phố Hội An nhận giải Vì sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục nhờ những đóng góp cho việc bảo tồn Di sản văn hóa nước nhà.
Nhà văn Nguyên Ngọc: Có một tiếng nói đáp lời anh Khoa, từ một phía gần như là đối cực, không phải trên đỉnh cao hàn lâm mà là từ đời sống sinh động hằng ngay, của anh Nguyễn Sự, bí thư Hội An, mà chúng tôi muốn gọi là một nhà văn hóa thực hành...

Trong giải thường năm nay, qua Nguyễn Văn Khoa và Nguyễn Sự, một lần nữa muốn gửi đến xã hội thông điệp về một triết lý về hội nhập và văn hóa, văn hóa trong hội nhập, rất cần thiết hôm nay.

Những ngôi nhà cổ là di sản thì rất dễ bị tổn thương trong va chạm với hiện đại. Con người sống thật mà là di sản thì càng dễ bị tổn thương hơn. Bài toán văn hóa của Nguyễn Sự mấy mươi năm nay ở Hội An là vậy. Và anh đã giải nó thành công....

Đúng như lời Nguyễn Văn Khoa nhắc lại Paul Ricceur: sinh ra và bừng nở bằng “sự tỏa sáng đan chéo của các nền văn hóa”. Hội An là một khám phá về hội nhập, và Nguyễn Sự là nhà văn hóa của khám phá đẹp đẽ ấy.


PGS Nguyễn Thạch Giang (sinh năm 1928 tại Nghệ An) nhận giải Nghiên cứu vì những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Hán - Nôm. Ông nguyên là PGS Văn học Hán Nôm thuộc Khoa Văn học, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.
Nhà văn Nguyên Ngọc: Sự nghiệp đồ sộ mà âm thầm của học giả Nguyễn Thạch Giang suốt nửa thế kỷ qua đã tạo nên cả một mảng nghiên cứu lớn và sâu sắc về văn học Hán Nôm trong di sản văn học Việt Nam, vừa tập trung vào những đỉnh cao như nghiên cứu, giới thiệu, chú giải Truyện Kiều của Nguyễn Du (gồm đến 10 quyển), vừa tỏa ra trên những xây dựng có tính nền tảng như bộTừ ngữ và điển cố văn học Việt Nam (cũng gồm đến 10 quyển), hoặc tác phẩm Nghiên cứu chữ Nôm – Những nền tảng ban đầu… nhằm dọn đường cho những người sau đi tìm lại cha ông.

Nguyễn Thạch Giang là một người dọn đường tận tụy và đầy trách nhiệm, không chỉ để rọi ánh sáng mới về phía sau, mà soi rọi mở đường cả về phía trước, như ông từng tâm sự: “Nghiên cứu văn bản cổ là một khía cạnh nhìn lại quá khứ để định hướng cho tương lai – chân trời bao la của lòng tin, tình thương, và tiến bộ”.

Ông Alain Ruscio (sinh năm 1947) nhận giải Việt Nam học nhờ những nghiên cứu về Đông Dương thuộc địa và cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương. Ông là nhà sử học, tiến sĩ văn học, nhà nghiên cứu độc lập. Ông cũng là người lãnh đạo Trung tâm Thông tin và Tư liệu về Việt Nam đương đại.

Nhà văn Nguyên Ngọc: Rất nhiều người Việt Nam đều biết, trong suốt nhiều năm dài, đặc biệt trong những thời kỳ gian khó nhất của đất nước này, Alain Ruscio là người bạn chiến đấu chung thủy. Ông là một nhà sử học dấn thân, theo định hướng kiên định về một đề tài tập trung, như tự gọi là “tầm nhìn thuộc địa”. Một tầm nhìn có thể soi sáng rất nhiều vấn đề lớn trong thời đại chúng ta.

Suốt 25 năm qua, Trung tâm Thông tin và Tư liệu về Việt Nam đương đại do ông sáng lập và lãnh đạo đã là nơi sưu tập, sắp xếp và cung cấp cho độc giả khắp thế giới một khối lượng tài liệu phong phú và đáng tin cậy đến từ hầu như tất cả các nguồn. Đấy cũng là một mặt trận khác, đầy hiệu lực, trong cuộc chiến đấu lâu dài và dũng cảm của ông vì Việt Nam mà ông yêu mến.

 Ông Pavel Pozner (sinh năm 1945 tại Mỹ, trở về Nga năm 1952) nhận giải Việt Nam học. Ông là một trong số ít các chuyên gia về Việt Nam tại Viện Phương Đông, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga.
Nhà văn Nguyên Ngọc: Nhà sử học Pavel Vladimirovich Pozner, người vốn đã có thể trở thành một nghệ sĩ say mê và tài năng như thân phụ ông, cuối cùng lại đến với Việt Nam học và sử học Việt Nam qua những quanh co đầy tình cờ mà cứ như là có duyên số tiền định.

Và trong lịch sử Việt Nam thì hướng chọn tập trung của ông lại thật đáng suy nghĩ: tác phẩm sử học đầu tiên là bộ Việt Nam cổ đại; tác phẩm tiếp theo làLịch sử Việt Nam từ cổ đại đến trung đại sơ kỳ; chen giữa là công trình có tính công cụ quan trọng Vấn đề chép sử biên niên Việt Nam, nguyên bản và ảnh hưởng ngoại lai.

Ông muốn hiểu, và giúp chúng ta hiểu Việt Nam từ nguyên sơ, trong những giai đoạn khởi đầu hình thành dân tộc, cũng là quyết định nhất trong hình thành tính cách dân tộc; và là hiểu thật chính xác bằng kiểm định nghiêm khắc các tư liệu và cách ghi chép theo lối biên niên của các tư liệu xưa.

Rồi lại tiếp một công trình đồ sộ, đào sâu hơn vào vấn đề đã được tập trung quan tâm: dịch, giới thiệu, chú giải bộ Khâm định Việt sử cương mục, Phần đầu, Tiền biên, và từ quyển 1 đến 5, xuất bản song ngữ Hán và Nga.

Ông đang được Viện Hàn lâm khoa học và Viện Đông phương học Nga giao nhiệm vụ đứng đầu công trình bao quát trọn vẹn toàn bộ Lịch sử Việt Nam, gồm 6 tập.

Có mặt trong khán phòng của của buổi lễ sáng nay có cả GS Hồ Ngọc Đại, người nhận giải thưởng Phan Châu Trinh về giáo dục năm đầu tiên (2007)

Pano lớn giới thiệu gương mặt được giải những năm trước
GS Trần Văn Khê và PGS Nguyễn Thạch Giang


  24/3 năm nay là kỷ niệm 86 năm ngày mất của Phan Châu Trinh. "Một lần nữa, chúng ta lại có dịp tôn vinh Tinh thần khai sáng của ông với tư tưởng Duy Tân" - bà Nguyễn Thị Bình, chủ tịch quỹ phát biểu trong diễn văn khai mạc.

Posted by truongca on Mar 20, '12 10:22 AM for everyone
Mùa đông năm 1952, được nghỉ phép về Paris, tôi ghi tên vào trường đại học, tới nhà ga mua một bưu ảnh chép lại bốn câu tức hứng sau khi uống một tách cà phê tại Paris gởi cho các bạn Việt Nam còn đang trị bịnh tại Aire/l’Adour :

Cà phê buổi sáng một ly thôi
Uống tại Paris chứ phải chơi !
Sung sướng hôm nay hùm tháo cũi
Sổ lồng chim phụng sắp tung trời.


TVK


Posted by truongca on Mar 3, '12 12:08 PM for everyone
Một chiều thu năm 1953, tôi viết :

THÔNG REO


Ngàn thông reo
   Ngàn thông reo
            Gió càng mạnh
                     Reo càng nhiều

Cành phất phơ
   Lá phất phơ
            Khi gió thoảng
                     Qua sương mờ
 
Cảnh tiêu điều
   Cảnh đìu hiu
            Trời xám ngắt
                     Lúc về chiều.

Nhớ lại mùa đông năm 1952 có ghi lại về cây thông bằng mấy câu sau :


Cành thông xanh
Lá thông xanh
Tiết đông lạnh
Cành vẫn xanh

TVK


Posted by truongca on Mar 3, '12 11:47 AM for everyone
Mưa rơi một sáng mùa thu năm 1953 :


 Sáng mưa tuôn xối xả
Gió lạnh lòng buồn bã
Mưa chẳng dứt mưa luôn
Buồn quá !

TVK


Posted by truongca on Feb 28, '12 1:07 AM for everyone
TRỐNG VIỆT NAM
GSTS Trần Văn Khê
Trống là một nhạc khí dùng chia thời gian thành những quãng đều nhau hay không đều để tạo ra nhịp điệu, tiết tấu. Trên thế giới người ta chia trống thành hai loại : một mặt dahai mặt da. Bộ phận quan trọng nhứt là thùng trống có nhiều hình thức khác nhau (ống dài, tròn dẹp, lưng ong, thùng rượu) với cách đánh khác nhau (đánh bằng dùi hay vỗ bằng tay). Kỹ thuật chế tạo trống gồm có dán mặt da, đóng đinh, đóng cúc hay căng dây.
Về phong cách biểu diễn ở phần lớn các nước đều tương tợ nhau, chỉ khác nhiều về chức năng của trống. Đặc sắc nhứt có thể nói là Ấn Độ với cách đánh từng loại trống hết sức tinh vi về nghệ thuật. Trống ở châu Phi thì thể hiện như ngôn ngữ trò chuyện, thậm chí đối thoại với nhau từ hai bên bờ sông.

Talking drum (loại trống Djembe) - chất lửa châu Phi

Trống Djembe (Djembe drum)


Yoruba - Một loại "talking drum" của châu Phi

Trống Zulu (Zulu drum) - Một loại trong "talking drum" của Châu Phi

Trống Tama (Tama drum)


Phong cách diễn tấu trống Châu Phi

TABLA
Một loại trống truyền thống của Ấn Độ dùng hai bàn tay để gõ, với sức diễn tấu hết sức phong phú, đa đạng, tinh tế, sâu sắc trong tiết tấu, màu âm và phong cách đối thoại

Ustad Allah Rakha (bậc thầy về trống Tabla) cùng với truyền nhân cũng là con trai ruột của mình - Nghệ sĩ tài ba Zakir Hussain (người được mệnh danh "The Speaking Hand") cùng đối thoại tabla với nhau

Tabla cùng hòa với Sitar
Trong ảnh: Pandit Ravi Shankar - bậc thầy về Sitar Ấn Độ hòa đàn cùng Ustad Allah Rakha vào ngày 22 tháng 3 năm 1984 tại Dubai

Cha con Ustad Allah Rakha & Zakir Hussain biểu diễn tabla đắm say

Riêng trống của Việt Nam có một số điểm đặc biệt hơn các nước khác, với sự đa dạng về hình thức, độc đáo về màu âm và phong phú về chức năng mà trên thế giới ít nơi nào sánh bằng.
Hình thức đa dạng
Một trong những loại trống độc đáo của chúng ta là cái bồng, một nhạc cụ có vị trí rất đặc biệt trong Đại Nhạc của Nhạc Cung Đình và Nhạc Lễ ở miền Nam.
Bồng là loại trống một mặt, thân bằng gỗ hay đất nung hình dáng như cái bình, phía dưới bịt kín, phía trên miệng xòe có bịt miếng da trăn. Chung quanh vành da trăn xoi hơn 20 lỗ để lòn dây mây qua căng thẳng mặt trống và thắt chặt ở bên dưới. Một sợi dây mây khác cột miết các sợi dây chằng, khi siết mạnh mặt trống được căng ra và tiếng bồng cao hơn, khi buông thả ra thì tiếng nghe trầm. Người sử dụng hoặc ngồi trên ghế kẹp bồng giữa hai đùi, hoặc ngồi xếp bằng để chiếc bồng thắt đáy lưng ong giữa hai chân, hai tay vỗ bồng.

Nghệ nhân Tám Nhứt vỗ bồng

Nghệ sĩ Nhứt Dũng (truyền nhân & cũng là con ruột nghệ nhân Tám Nhứt) giới thiệu nghệ thuật vỗ bồng đến thanh niên

Trống bồng (ảnh tư liệu của Phạm Duy)
 
 
Nghệ sĩ Nhứt Dũng biểu diễn vỗ bồng
(Video KV)

Trống hai mặt thì Việt Nam có rất nhiều, thông thường chia ra hai loại : tiểu cổ (trống nhỏ) và đại cổ (trống lớn).
Tiểu cổ tuy gọi là trống nhỏ nhưng bao gồm nhiều cỡ từ nhỏ cho đến vừa và hơi lớn.
Trống chầu trong Ca Trù thuộc loại tiểu cổ, không có kích thước cố định mà chiều cao và đường kính khoảng chừng 20 phân, sử dụng một roi chầu dài để đánh theo phong cách rất đặc thù, roi trống song song với mặt trống và một tay vịn một tay đánh.

Trống chầu trong Ca Trù

Quan viên cầm chầu trong một canh hát

Trống chầu góp mặt trong nghệ thuật Ca Trù với bộ ba nhạc khí quan trọng không thể thiếu ở một canh hát: đàn Đáy, trống chầu, cỗ phách

 
Thỏng Tỳ Bà Hành (Ca nương Thúy Hòa) cùng với đàn Đáy (Nguyễn Văn Khuê) & trống chầu (Nguyễn Văn Mùi)
- Video KV -

Trống Đế trong Chèo cũng là tiểu cổ có hai mặt với đường kính từ 17 đến 20 phân, cao từ 22 đến 24 phân, sử dụng hai dùi và đánh cả trên bề mặt, ở mé trống và tang trống.

Trống đế (ảnh: NS Đức Dậu)

Nhỉnh hơn một chút có loại trống dẹp dùng trong Rỗi Bóng với phong cách đánh đặc thù được “bà bóng” sử dụng vừa đánh trống vừa hát trong các buổi lên đồng.

Trống dẹp (trống bản)

Lớn hơn nữa có trống chiến trong Hát Bội (Hát Tuồng), một tiểu cổ hình ống hai mặt da, cao 45 phân, đường kính mặt trống khoảng 50 phân và đánh bằng hai dùi.

Trống chiến
Trống chầu trong hát Tuồng 
(Ảnh tư liệu Phạm Duy)

Một loại trống đặc biệt không phải tiểu cổ cũng chẳng phải đại cổ là trống võ sử dụng trong dàn Đại Nhạc của Nhạc Cung Đình hay Nhạc Lễ ở miền Nam, đường kính từ 40 đến 45 phân, cao chưa đến 20 phân, đặt trên giá ba chân bằng gỗ.
Trống võ trong dàn Đại Nhạc cung đình



Song tấu Kèn Trống - Nhã Nhạc Cung Đình Huế

 Thông thường trống trong dàn Đại Nhạc hơi cao hơn trống của Nhạc Lễ, nhưng đường kính bề mặt lại nhỏ hơn đôi chút.
Dàn Nhạc Lễ trong đám tang có một cặp trống nhạc gọi là trống văntrống võ (hay trống đực và trống cái) bề cao 15 phân, đường kính 40 phân làm bằng da trâu, chính giữa mặt trống có vẽ vòng tròn âm dương, đặt trên một cái giá ba chân. Người đánh trống là nhạc công chánh nên lúc nào cũng phải mặc áo dài đen, quần trắng và sử dụng một cặp dùi đầu nhọn.

Ban nhạc lễ miền Nam ngày xưa với cặp trống văn - trống võ
(Ảnh tư liệu Phạm Duy)

GS Trần Văn Khê đánh trống nhạc

Đại cổ là trống chầu, có trong Hát Chèo, Hát Bội, Nhạc Cung Đình và trong tất cả các đền thờ miếu mạo ở miền Nam.

Nhà nghiên cứu tuồng Vũ Ngọc Liễn cầm chầu trong buổi hát tuồng do nhà hát Đào Tấn biểu diễn, tổ chức ở Munich (Đức) năm 2002

Ngoài ra có một loại trống khác mà ít người để ý là trống cơm, nguồn gốc từ miền Nam Ấn Độ gọi là trống Mridangam, trên mặt trống có một ít cơm nghiền – hoặc miếng bột mì trộn nhuyễn như miếng bánh – dán lên làm cho tiếng trống êm ái hơn.

Trống Mridangam và cách thức diễn tấu 




Nghệ nhân bậc thầy trống mridangam Ấn Độ Guruji TVG trong một tiết mục tuỳ hứng của mình

Trống cơm là nhạc cụ quan trọng trong Nhạc Lễ và Hát Bội. Còn trong Hát Chèo thì trống cơm chỉ đóng vai trò đánh luồn vào đàn chớ không có bài bản riêng.

Tiếng trống cơm âm trầm trong một bài hát Chèo

Trống cơm Việt Nam

Trong âm nhạc truyền thống, trống hiện diện nhiều nhứt là trong dàn Đại Nhạc của Nhạc Cung Đình với đủ các loại từ đại cổ, tiểu cổ, cặp trống võ (trống lễ), đến bồng và trống cơm.

Độc đáo màu âm

Trống trong truyền thống Việt Nam có màu âm hết sức đa dạng, sự phối hợp cũng độc đáo với nhiều chức năng phong phú mà ít ai ngờ.
Trong Hát Bội cũng như trong Nhạc Lễ, màu âm của tiếng trống được sử dụng vô cùng tinh vi, màu âm khác nhau thì mang ý nghĩa khác nhau.
Tang, thờn, tùng, thùng khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tong, táng, tỏng khi đánh vào vành da, đây là cách đánh sáng và tiếng trống đó gọi là tiếng dương.
Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trạng giận dữ, hốt hoảng. Tịch là một dùi chặn, một dùi đánh vào giữa mặt da, khi nhân vật biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức. Đây là cách đánh tối và tiếng trống này là tiếng âm.
Cắc là đánh vào tang trống khiến màu sắc của tiếng trống tươi tắn hơn, linh động hơn
Về kỹ thuật biểu diễn, luôn luôn có tiếng âm dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần tiếng trống âm hay dương mà thôi. Phong cách này phù hợp với triết lý dân gian quan niệm rằng vũ trụ có được do sự phối hợp của hai yếu tố âm và dương, tuy khác nhau nhưng không đối chọi mà bổ sung cho nhau.
Trong Hát Bội và Nhạc Lễ có các bài bản dành riêng cho trống với đầy đủ công thức như câu thủ (mở đầu), câu(kết thúc). Ngoài những nhịp điệu cơ bản, trống Việt Nam còn có những biến tấu, một khi nắm vững công thức đánh mở đầu và kết thúc thì đoạn giữa có thể ứng tác ứng tấu được. Vì vậy khi học đánh trống thì phải học chân phương, nhưng khi biểu diễn phải thêm hoa thêm lá, thêm nhưn thêm nhụy cho bay bướm hơn. Yếu tố về mỹ học cho phép người biểu diễn chẳng những không cần giữ các công thức cố định mà phải thay đổi cho thêm phần sinh động.

Chức năng đa dạng

Ở các nước, đa phần tiếng trống chỉ để phụ họa theo nét nhạc, làm thành tiết tấu của bản nhạc mà không có nhiều chức năng như trong truyền thống Việt Nam.
Trước đây, trống đại cổ không chỉ dùng trong các dịp lễ tế thần mà còn sử dụng trong đời sống hàng ngày như trống điểm canh để báo hiệu từng canh giờ trong đêm; hay dùng ở trường học những lúc khai trường, nhập học và tan lớp.
Ngoài ra, chiều về hễ nghe tiếng trống thùng thùng diễu qua các con đường trong thôn xóm thì mọi người đều biết rằng có gánh Hát Bội về làng và nôn nao chuẩn bị đêm đó đi xem.
Mặt khác, mỗi khi có tiếng trống vang lên hồi một chính là để báo động các tai biến xảy ra trong làng xóm như cháy nhà, tai nạn, chết người…
Thời chinh chiến thì “thùng thùng trống đánh ngũ liên” ban hiệu lệnh xuất quân, thúc giục người chiến sĩ lên đường ra trận giữ yên bờ cõi.
Nhưng đặc sắc nhứt là vai trò quan trọng của trống trong các bộ môn nghệ thuật truyền thống như Ca Trù, Hát Bội, Chèo.
Chèo
Trống đóng vai trò không thể thiếu trong bộ môn nghệ thuật Chèo, gồm một đại cổ gọi là trống cái (trống chầu) và một tiểu cổ là trống đế.
Trong hát chèo, khi khai tràng (mở đầu) có tiếng trống chầu, trống đế nổi lên cùng với giọng ca của diễn viên, hợp với tiếng mõ và tiếng la tạo ra một không khí sôi động để cho mọi người chú ý. Bài trống này gọi là thi nhịp hay vỡ nước.
Trống đế dùng hai dùi, khi đánh mau vào hai bên tang trống là róc tang; đánh vào giữa mặt trống là lên mặt; tay trái đè mặt trống, tay phải gõ dùi lên mặt trống là bịt mặt; hai dùi đánh mau trên mặt trống là đổ trống. Đánh theo nhịp gọi là đánh khổ trống với nhiều cách đánh từ đổ 2 nhịp, 4 nhịp, 6 nhịp đến 8 nhịp. Không phải chỉ đánh chân phương mà thường đánh hoa lá, thay đổi theo tình tiết của vở diễn, không khí trầm lắng hay rộn rịp của lớp trò và diễn tả được tâm trạng vui buồn của nhân vật.
Do trống đế là nhạc khí chủ đạo nên người đánh trống đế gần như là chỉ huy dàn nhạc. Người đánh trống càng tinh tế tài hoa thì diễn viên và dàn nhạc càng hứng thú và hiệu quả buổi diễn sẽ càng cao.

Hát Bội

Trong Hát Bội có nhạc khí đặc biệt là trống chầu, một chiếc đại cổ đặt bên cạnh sân khấu kế bên dàn nhạc. Người đánh trống chầu không thuộc thành phần nhạc công trong dàn nhạc mà là người am hiểu nghệ thuật Hát Bội để vừa đại diện khán giả, vừa hướng dẫn người xem trong việc phê phán, khen chê một cách chính xác.
Người đánh trống chầu giỏi cũng phải am hiểu văn chương của tuồng để điểm trống cho đúng vì tiếng trống chầu cũng tựa như dấu chấm, dấu phết trong một câu văn. Đánh đúng cách, nói theo giọng nhà nghề là không “đánh lọt vào trong họng” của diễn viên, mà đôi khi còn “đỡ giọng” giúp cho đào kép bằng cách dùng tiếng trống phụ với dàn nhạc gây không khí sôi động cho sân khấu. Đánh một tiếng là điểm câu, hai tiếng là khen vừa, ba tiếng là khen nhiều.
Chính vì vậy ngày xưa trong làng hễ đêm nào nghe tiếng trống chầu liên hồi thì mọi người bảo nhau: “Chà, hôm nay tiếng trống chầu đánh nhiều, chắc là đoàn này diễn hay lắm, mai phải đi xem mới được”.
  Ngoài ra, trống chiến trong Hát Bội là một loại tiểu cổ có chức năng hệt như trống đế trong Chèo, nhưng cách đánh thì lại khác hẳn với những công thức riêng dành cho nói lối, hát khách, hát nam…

Ca Trù

Trong Ca Trù, ngoài đào nương ca, kép đờn đáy phụ họa còn có người đánh trống chầu. Đây phải là người thật am hiểu Ca Trù và thông thạo lề lối đánh trống, bởi trống chầu không chỉ thuần túy đánh nhịp mà còn nhằm nhận xét, khen chê. Hễ đoạn nào ả đào (diễn viên) hát hay sẽ ngợi khen bằng cách gõ một bên tang trống gọi là chát, hoặc đánh giữa mặt trống gọi là tom (vì thế dân gian còn gọi việc đi nghe hát Ca Trù là thú tom chát). Có nhiều khổ trống dùng để khen giọng hát hay tiếng đàn mang tên đầy thi vị như song châu, liên châu, xuyên tâm, phi nhạn
Chính vì vậy trống chầu trong Ca Trù có tới ba chức năng : (1) mở đầu và chấm câu tức tham gia vào sự biểu diễn, (2) phê phán, khích lệ người hát và (3) mang tính giáo dục, bởi chính tiếng trống chầu khen chê đúng chỗ góp phần giúp khách thưởng lãm nhận rõ những điểm đặc sắc hay nét tài hoa của từng câu hát, tiếng đàn.
Mặt khác, trên thế giới cũng không nơi nào mà tiếng trống lại có nhiều cách đánh để bày tỏ sự khen ngợi với những công thức đa dạng như vậy, chẳng hạn như khen trước khi dứt câu khác với sau khi dứt câu, cách khen tiếng đàn khác với cách khen giọng hát ...
* * *
Có thể nói, xưa nay người Việt Nam khi thưởng thức âm nhạc thường ít lưu tâm đến tiếng trống nên không cảm nhận được tầm quan trọng của nhạc cụ này trong âm nhạc truyền thống. Rõ ràng khi nhìn vào bề sâu mới thấy hết vai trò chủ đạo của trống trong nghệ thuật biểu diễn của một số bộ môn, chớ không chỉ đơn thuần đi theo hay phụ họa.


Đáng tiếc là ngày nay một số giới trẻ của chúng ta hiểu biết nhiều và say mê trống Jazz của phương Tây, trong khi đó lại không quan tâm đến những nét đa dạng, phong phú và sinh động của tiếng trống Việt Nam. Nếu các bạn chịu khó bỏ công tìm hiểu, tôi tin tưởng chắc chắn ai nấy cũng sẽ lấy đó làm niềm hãnh diện, bởi tiếng trống và cách sử dụng tiết tấu chính là một trong những ưu thế của âm nhạc truyền thống Việt Nam.
(Một số hình ảnh & videos minh họa trong bài viết lấy nguồn từ Internet)


Posted by truongca on Feb 23, '12 2:12 AM for everyone
Một ngày “xuống tinh thần” đầu năm 1953 :


Chắc nặng nợ tiền khiên với bệnh viện
Từ Cochin lại tới Hotel-Dieu
Rồi Cite, rồi Pessac đến bây giờ
Phải đi nghỉ tận vùng Landes hẻo lánh

Có những lúc giữa đêm thâu gió lạnh
Thao thức nằm không ngủ suốt đêm trường
Nhớ bạn hiền, nhớ công việc, nhớ quê hương
Rồi tiếc mãi phút thời xưa oanh liệt

TVK


Posted by truongca on Feb 22, '12 3:26 AM for everyone
Một đêm hè năm 1952 :

Đi ngủ nhà thương họ tắt đèn
Khuya rồi ! Thao thức ngủ không yên
Bên tai thỏ thẻ vài con muỗi
Ngoài phố tò le mấy giọng kèn

Một chiều thu năm 1952 trong vườn hoa của bệnh viện, chụp ảnh xong, tự rửa ra và gởi cho em gái Trần Ngọc Sương :

Đây là cảnh sân trong của bệnh viện
Anh Hai ngồi mơ mộng giữa trăm hoa
Hoa đua nhau khoe sắc buổi chiều tà
Hoa dẫu đẹp lòng người không lưu luyến
Vì …
Lòng người đã băng rừng vượt biển
Để bay về quê yêu dấu: Việt Nam.


TVK


Posted by truongca on Feb 22, '12 3:07 AM for everyone
Mỗi ngày tiêm thuốc vào gân, mùa Thu năm 1952 :

Nằm yên
         Đếm giọt
                  Thuốc tiên
                           Cứ rót
                                    Từng giọt
                                             Vào người
                                                   Từng giọt
                                                               Vào người !
Giọt dài
Giọt ngắn
         Khi mau
                  Khi chậm
                           Đợi thấm
                                    Vào người
                                             Bực lắm
                                                   Ai ơi !

TVK


Posted by truongca on Feb 21, '12 12:51 AM for everyone

Cuối Hè sang Thu năm 1952 tại bệnh viện Aire/ L’Adour :
 
Ngày mới đến cành xanh hoa tím ngát
Trời cuối hè oi ả nóng như thiêu
Nay cành trơ hoa héo cảnh đìu hiu
Thêm gió lạnh lúc đầu thu… lá rụng
 
Mỗi khi gió làm cành cây lay động   
Nhìn lá vàng từng đám tách cành rơi
Thoạt nhìn qua như đàn bướm nhởn nhơ
Trong giây phút bướm ngừng bay… lá rụng
 
Chim không hót, hoa không cười, người không hy vọng
Bốn tường vôi trắng xóa một màu tang
Nhìn cảnh buồn dạ khách cũng bàng hoàng
Chiều im lặng! Trăng gần lên! Lá rụng
 
Sáng hôm sau :

Nhưng ta hãy cố vui
Vui để cho tiếng cười
Át lên cả tiếng khóc
Đời sẽ thấy xinh tươi
 
Một đêm hè nóng bức :

Hôm nay trời nóng bức
Canh khuya còn thao thức
Lăn trở ngủ không yên
Nực !...

TRẦN VĂN KHÊ



Posted by truongca on Feb 3, '12 6:57 AM for everyone

GIÁO DỤC ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

CHO TRẺ EM

GSTS TRẦN VĂN KHÊ

Một cách tiếp cận nhạc truyền thống từ thuở ấu thơ khi cho trẻ em tiếp xúc trực tiếp với các loại nhạc cụ dân tộc

Trong hệ thống giáo dục tại các nước châu Á, môn âm nhạc - nhứt là âm nhạc dân tộc - thường không được quan tâm bằng các môn về khoa học và kỹ thuật, lại chỉ chú trọng giảng dạy về kỹ thuật sử dụng và luyện tập nhạc khí hơn là kích thích trí tưởng tượng sáng tạo và hướng dẫn học sinh cách thưởng thức âm nhạc mang tính chất mỹ học.

 Trong khi đó, trước sự tấn công ồ ạt của các phương tiện truyền thông đại chúng, trẻ em trở thành những thính giả thụ động, tiếp nhận không chọn lọc những luồng văn hoá từ bên ngoài xâm nhập vào. Việc giúp cho các em nhận thức được bản sắc văn hoá dân tộc là rất cần thiết để trên cơ sở đó các em có thể tiếp nhận văn hoá của thế giới một cách đúng đắn hơn.

 Chính vì vậy mà vào năm 2001, Phòng Nghệ thuật và Kế hoạch văn hóa của Unesco phối hợp với Hội đồng quốc tế âm nhạc đã gởi văn thơ cho một số hội đoàn, tổ chức phi chánh phủ cùng các chuyên gia và nhà giáo dục âm nhạc để thông báo về dự án “Đem âm nhạc dân tộc vào chương trình giáo dục cấp tiểu học tại châu Á”. Việc này không nhằm mục đích để huấn luyện các em trở thành ca sĩ hay nhạc sĩ mà chỉ là giúp cho các em nhận thức được bản sắc văn hoá dân tộc và quan trọng nhứt là gieo tình yêu âm nhạc truyền thống vào trong tim của các em, căn cứ trên phương pháp xây dựng óc sáng tạo của học sinh.

 Nhưng để tìm ra cách áp dụng việc giảng dạy âm nhạc dân tộc trong các trường tiểu học ở Châu Á, cần có một nơi làm thí điểm, vì không thể áp dụng các phương pháp của phương Tây cho các nước Á châu. Phòng Nghệ thuật và Kế hoạch Văn hoá của Unesco dự định chọn năm nước Châu Á gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan và Việt Nam để nhờ các chuyên gia nước sở tại hợp tác trong việc tìm ra một phương pháp sư phạm phù hợp. Đây chính là điều tôi đã từng nhiều lần đề xuất trong những hội nghị về giáo dục âm nhạc từ trước đến nay, vì vậy tôi là người đầu tiên hưởng ứng đề nghị này.

 Sau một quá trình trao đổi, Phòng Nghệ thuật và Kế hoạch Văn hoá của Unesco và tôi đã đi đến thỏa thuận tiến hành một thể nghiệm đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chương trình này được UNESCO ủng hộ về tinh thần cũng như tham gia về tài chánh, trong nước thì được sự đồng thuận của Sở Văn hoá và Thông tin TP.HCM, đã chỉ định đơn vị đứng ra thực hiện là Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật, với sự hỗ trợ tích cực của Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM, trường Tiểu học Trần Hưng Đạo, sự cộng tác của nhiều nhân sĩ thành phố.

 Thế là cuối tháng 4-2004 vừa qua, tôi trở về nước để trực tiếp tiến hành giảng dạy lớp thể nghiệm, qui tụ 18 giáo viên âm nhạc cấp I có nhiều kinh nghiệm, hầu hết đều đang dạy học tại TP.HCM. Theo chương trình, ba buổi đầu tiên là dành cho các giáo viên với các bài giảng đại cương về âm nhạc dân tộc Việt Nam cả hai truyền thống dân gian và bác học, nhằm trang bị một số kiến thức âm nhạc truyền thống cơ bản cho các giáo viên này.

 Tiếp theo là phần giảng dạy âm nhạc cho lớp học gồm có 20 em được chọn lựa từ những học sinh cấp I tại trường Tiểu học Trần Hưng Đạo. Các giáo viên ngồi bên dưới dự thính, quan sát và ghi chép. Kết thúc mỗi buổi học các giáo viên đều ngồi lại với tôi để rút ra những nhận xét và đúc kết các nguyên tắc giảng dạy.

 Tôi áp dụng phương pháp học mà chơi, chơi mà học, đầu tiên hướng dẫn các em làm quen với tiết tấu với cách thức đơn giản bằng cách tập cho học sinh vỗ tay, vỗ đùi, vỗ lưng, dậm chân, đi tới đi lui… Tiếp theo tôi dạy các em sử dụng thanh tre và song lang để gõ nhịp. Tiết tấu đi đôi với động tác múa, các em vừa hát vừa múa theo thầy dạy. Chỉ trong vòng nửa giờ đồng hồ, các em đã tiếp thu được bài học về tiết tấu qua những trò chơi vui vẻ và thú vị nhưng trong vòng trật tự. Để thêm phần hào hứng tôi chia lớp học ra làm hai nhóm cùng tham gia trò chơi tiết tấu bằng cách thay nhau đánh nhịp một, rồi nhịp đôi, rồi hai bên thách đố nhau đánh các nhịp như chẻ hai, chẻ bốn… và lớp học biến thành một buổi vui chơi có sự tranh đua.

 Sau đó tôi cho các em học đánh trống theo truyền thống Việt Nam, nghĩa là đánh trống miệng trước khi đánh trống thật, tập cho các em có tinh thần sáng tạo bằng cách chuyển từ nhịp trường canh đến nhịp đôi, nhịp tư, tập chẻ nhịp và lần lần đi đến nhịp ngoại, nhịp chỏi.

 Nguyên tắc tôi áp dụng trong những buổi học là đi từ từ giản dị đến phức tạp, từ cái biết đến cái chưa biết, từ gần đi tới xa, cụ thể đến trừu tượng, từ độc tấu đến song tấu, tam tấu và hoà tấu (từ cá nhân đến tập thể), từ một nhạc khí đến hai, ba, bốn nhạc khí khác nhau.

 Áp dụng nguyên tắc và phương pháp nêu ở trên, tôi hướng dẫn các em tự chế ra những nhạc khí đơn giản như đổ nước vào chén đá hay chai không để làm thành một nhạc cụ gõ, lần lần theo một độ cao nhứt định, tập cho các em nhận thức độ cao của các nhạc khí, thay đổi độ cao bằng cách thêm bớt nước vào chén, vào chai. Tôi lại dạy các em sử dụng những nhạc khí về tiết tấu trong bộ gõ, từ song lang, trống, trước khi đi đến những nhạc khí trong loại đàn có dây khảy hay các kèn sáo.

 Tôi cũng dạy những bài hát ru hát đồng dao, bài vè, câu đố, những bài thơ cho học sinh, sau tiết tấu đi lần dến các chữ nhạc hò, xự, xang, xê, cống, phát âm và hát bằng tên chữ nhạc. Dạy các em chép nhạc theo phong cách truyền thống, sau khi thuần thục sẽ đi đến cách chép nhạc theo phương Tây trên khuông nhạc 5 dòng.

 Tất cả các buổi thuyết trình, giảng dạy và những buổi lên lớp thể nghiệm đều  được quay video đem về Pháp để nhân viên Unesco cùng tôi hội ý trong việc chọn lọc những đoạn cần thiết dựng thành một phim tài liệu hữu ích, chẳng phải riêng cho Việt Nam mà có thể phổ biến tại tất cả các nước trong khối Á Phi. Từ đó kết quả việc làm trên có thể được đưa ra giới thiệu và phổ biến cho cộng đồng các nước Châu Á và Châu Phi qua các cơ quan văn hoá của Unesco.

 Sau khi trở về Pháp, báo cáo chi tiết chương trình thể nghiệm dài 30 trang của tôi gởi cho Unesco đã nhận được sự tán dương của Phòng Nghệ thuật và Kế hoạch văn hoá, đồng thời cũng lôi cuốn sự quan tâm của đông đảo bà con người Việt tại Paris. Chính vì vậy mà tôi lại được mời nói chuyện nhiều buổi trước các Hội quán Hội người VN tại Pháp cũng như tại Phật đường Khuông Việt ở Paris, trước những kiều bào trí thức, dược sĩ, bác sĩ.

 Mọi người rất háo hức được nghe nói chuyện về việc thể nghiệm đem âm nhạc dân tộc dạy cho trẻ em bậc tiểu học trong nước nên đến tham dự rất đông, ngoài dự kiến của ban tổ chức. Trong các buổi nói chuyện này, thông thường tôi thuyết trình trong 30 phút và sau đó chiếu phim vidéo ghi hình các buổi giảng dạy. Hầu hết mọi người đều tỏ ra thú vị, thậm chí vài người cảm động rơi lệ khi nhìn cảnh trẻ em vui vẻ, thích thú trong giờ học nhạc truyền thống, nhứt là khi nghe các em đối đáp thông suốt những câu hỏi của thầy về âm nhạc dân tộc, mà hẳn là một số người lớn – vốn hờ hững với âm nhạc truyền thống – cũng phải chịu thua.

 Hầu như tất cả đều ủng hộ thể nghiệm trên đây và đều đặt một câu hỏi giống nhau: liệu chương trình này sẽ được phổ biến rộng rãi trong hệ thống giáo dục nước nhà hay không?

 Câu trả lời của tôi cũng giống như đã từng trả lời với các báo trong nước:

 “Tôi rất mong chương trình này được phổ biến càng rộng rãi càng tốt, nhưng  việc này nằm ngoài tầm tay và quyền hạn của tôi. Tôi chỉ có thể làm nhiệm vụ gieo hạt giống. Nếu gặp mảnh đất phì nhiêu, được nhiều người ra tay vun tưới thì sẽ có cây xanh, hoa tươi, trái ngọt. Nếu chẳng may đất cằn cỗi, không ai quan tâm chăm sóc thì hạt giống sẽ chết đi. Đó sẽ là một điều rất đáng tiếc!”.

 Paris ngày 12/11/2004


Posted by truongca on Jan 31, '12 6:11 AM for everyone
KHAI BÚT ĐẦU XUÂN NHÂM THÌN 2012
(bản viết tay)

Photobucket

Posted by truongca on Jan 31, '12 1:58 AM for everyone
KHAI BÚT ĐẦU XUÂN NHÂM THÌN 2012

Photobucket

Posted by truongca on Jan 18, '12 2:22 AM for everyone
LỜI KHAI MẠC
PHIÊN CHỢ TẾT “GIA LẠC”
 
VIỆT NAM Tháng Giêng – 2011

 Mâm mứt Tết Huế - Ảnh KV

Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho tới lòng người, và tất nhiên phải nên đong đầy những niềm vui phơi phới mừng đón một năm nhiều hy vọng.
 
Cố đô Huế là vùng đất còn giữ được những nét đẹp của thuần phong mỹ tục, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Mùa xuân xứ Huế, dù trải qua bao thăng trầm của thời gian, vẫn còn lưu giữ những nét truyền thống tốt đẹp. Tất cả hòa quyện làm nên một Tết Huế rất riêng, rất đáng để ta thưởng thức và suy ngẫm ... Một trong những nét đẹp đó chính là những phiên chợ Tết, mà đậm đà không khí Huế và mang tính nhân văn nhứt phải kể đến phiên chợ Tết mang tên Gia Lạc – chợ Tết của người Huế xưa – nay chỉ còn trong sử sách và đã chìm vào quên lãng kể từ năm 1945. Phiên chợ này do hoàng tử Nguyễn Phúc Bính, tước hiệu Định Viễn quận vương, là con thứ 6 của vua Gia Long lập ra từ 200 năm trước để hòa cùng với dân chúng vui chơi ngày Xuân. 
 
Đi ngược lại với tư tưởng của vua và triều thần bấy giờ là xem trọng việc làm nông mà hạn chế việc mua bán, vị hoàng tử này lại đặc biệt say mê kinh doanh và rất giàu có. Tuy nhiên, vua Minh Mạng – anh em của Định Viễn quận vương bấy giờ chỉ muốn hoàng thân quốc thích theo đuổi lối học từ chương và tránh xa việc thương mại, quốc phòng nên Định Viễn quận vương thường bị vua khiển trách. Do hợp tác buôn bán với thương nhân nước ngoài nên Định Viễn quận vương rất cởi mở và giao tiếp với nhiều giới. Ông đã lập ra phiên chợ Tết Gia Lạc nằm ngay trên đường về thôn Vỹ Dạ, nơi ngã ba làng Nam Phổ. Đến đây, mọi người sẽ được tham gia các trò chơi ngày tết của cung đình và của dân gian, thưởng thức các món ăn từ dân giã đến cao sang, mua sắm các đồ chơi, vật dụng, vật trưng bày ngày tết, ban đầu chỉ dành cho hoàng thân quốc thích và quan lại nhưng về sau mở rộng cho cả dân thường đến tham gia vui chơi.
 
Nhìn lại lịch sử, thấy một nguyên nhân quan trọng khiến triều Nguyễn trở nên suy yếu là do đã coi thường việc kinh doanh, tìm cách hạn chế sự đi lại, giao thương của người dân nên xã hội trở nên trì trệ, lạc hậu. Trong bối cảnh đó vẫn có những người trong chừng mực dám đi ngược lại chính sách chung của triều đình như Định Viễn quận vương, làm giàu thêm cả về vật chất lẫn tinh thần cho đời sống người dân Huế. Cái tên Gia Lạc có nghĩa là: thêm niềm vui.
 
Đối với người Việt Nam, một nét văn hóa thuần Việt là nét văn hóa bao gồm nhiều yếu tố. Ngoài sự hòa quyện lòng người, hồn người, còn hòa hợp tất cả về các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có thể kể đến như âm nhạc, kịch nghệ, văn chương, kinh tế, vui chơi giải trí, ẩm thực...  Phiên chợ Gia Lạc hôm nay vừa là một nơi chúng ta có thể du xuân để mua sắm những món hàng ta ưa thích:
 
-         Mắt thấy những vật phẩm ngày tết rực rỡ, tươi đẹp từ hoa giấy Thanh Tiên rộn ràng màu sắc phù hợp với đạo Mẫu Thiên Y Ana, bông đũa ngũ sắc dùng để cúng các lễ đầu năm tại bếp, vườn, các hình nhân bổn mạng cho tới các loại tranh ảnh treo Tết như tranh làng Sình sử dụng chất liệu màu sắc từ thiên nhiên (màu đỏ của đất bazan, màu đen của vỏ cây, màu xanh của lá…) và đặc biệt nhứt là tranh liễn làng Chuồn một thời vang bóng. Những món đồ chơi dân gian như con tu huýt làm từ đất nung của làng cổ Phước Tích, con vo vo, con lùng tung ngũ sắc mà khi quay sẽ tạo ra âm thanh như một bản hòa âm của côn trùng miền quê, các con bột ngũ sắc…

 Hoa giấy Thanh Tiên - Ảnh KV

Tranh liễn làng Chuồn & bộ trà cụ cổ Huế - Ảnh KV

Mứt cam sành (nguyên trái) - Ảnh KV

Bánh bài ngày Tết - Ảnh KV

Những món đồ chơi dân dã: lùng tung, bột ngũ sắc, vo vo... - Ảnh KV

-         Đồng thời chúng ta còn được thưởng thức hương vị của những món ăn thuần túy trong văn hoá ẩm thực Huế. Từ những món bánh trái đơn sơ như bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc, bánh phất, bánh tét làng Chuồn, xôi thịt hon … tới những món ăn nấu theo lối cổ truyền Huế rất đặc biệt như món gắp tư dùng với đồ chua, món khối bò, bánh ướt dùng với thịt bê xáo, bánh kê dùng với gà nướng lá chanh, bánh canh Nam Phổ, cuốn tôm chua, thịt phay mắm rô… Ngoài ra là những món ngọt ngày Tết trong cung đình, phủ đệ như món xôi đường nổi tiếng của làng cổ Phước Yên, bánh bài, bánh cây, mứt cam sành, mứt bát bửu…
 
-         Không những được nếm vị Huế thơm ngon nồng đượm, tai ta lại có thể nghe những giai điệu ngọt ngào đậm đà chất Huế cố đô qua tiếng đờn Tranh mượt mà, sâu lắng của Hải Phượng gợi lên biết bao nỗi niềm hoài cổ về nếp sống tao nhã, bình dị thuở xưa, gợi cho ta tìm về cái nên thơ, tế nhị mà sâu sắc của Huế mộng, Huế mơ một thời vàng son. Ngoài tiếng nhạc dìu dặt đưa bước chân ta du xuân dạo chợ, ta còn có dịp nghe lại những tiếng hô bài tới của nhóm nghệ sĩ Đức Tâm, tiếng rao bài chòi vui tươi dí dỏm, tiếng hô chơi bầu cua tôm cá làm cho không khí ngày xuân náo nhiệt vô cùng. Đặc biệt còn có cả trò chơi ngày Tết thường chơi trong cung đình là Hội Xăm Hường, được tổ chức như một hội thi thời phong kiến với đủ các cấp từ tú tài, cử nhơn, tiến sĩ…

 Không gian trưng bày tái hiện vật phẩm Tết Gia Lạc, GS Trần Văn Khê ngồi cùng phu phụ nghệ nhân Hoàng Anh & nhà nghiên cứu cổ vật Trần Đình Sơn - Ảnh KV

Đây không phải là lần đầu tiên phiên chợ Tết Gia Lạc này được phục dựng và tổ chức ở thời hiện đại của chúng ta, nhưng là lần đầu tiên được phục dựng lại và tổ chức tại Việt Nam – quê hương xứ sở nơi phát tích những giá trị văn hóa truyền thống mà cha ông ta đã dày công tạo dựng từ xưa.
 
Với một lễ hội có tính nhân văn như vậy chỉ còn lại trong sử sách và đã chìm vào quên lãng kể từ khi chế độ quân chủ chấm dứt vào năm 1945 thì mãi đến năm 2002, lần thứ nhất cô Hồ Thị Hoàng Anh nhận lời mời của Trung tâm Giao lưu Đức - Á tái hiện phiên chợ Gia Lạc ngay tại khuôn viên của Trường đại học dân lập Munchen (Munich - Đức). Và trong tuần lễ giao lưu văn hóa đó, phiên chợ Tết Gia Lạc đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của người Đức đến với nét đẹp văn hóa sâu sắc của người Việt Nam.   
 
Lần thứ hai cô nhận lời mời của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển tại Nantes (Pháp) để tái hiện màu sắc của chợ Gia Lạc trong buổi Dạ tiệc cuối năm được tổ chức tại Le Lieu Unique do chính cô đảm trách.
 
Và đây là lần thứ ba nhưng lại là lần thứ nhất phục dựng phiên chợ Gia Lạc tại quê nhà Việt Nam theo lời mời của Công ty cổ phần bất động sản Bình Thiên An - chủ đầu tư - Dự án đảo Kim Cương.
 
Tôi có may mắn đã từng được tận mắt chứng kiến, tận tai nghe và trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài về 2 phiên chợ Tết Gia Lạc tại Đức và Pháp. Nhờ cái may đó, tôi đã thấy được sự đón tiếp nồng hậu, tình cảm nồng nhiệt của báo giới và người dân nước ngoài về văn hóa Châu Á, nhứt là văn hóa Việt Nam, chứng tỏ rằng nét đẹp văn hóa phương Đông – văn hóa Việt Nam có sức cuốn hút đặc biệt với người phương Tây. Đặc biệt nhứt là khi tham dự phiên chợ này, Hồ Thị Hoàng Anh đã được báo giới ngoại quốc cùng đặt cho một danh hiệu rất cao quý là “Princess” (nghĩa là công nương) vì phong thái sang trọng quý phái và cách đối đãi lịch thiệp với mọi người mà ít ai biết được cô chỉ là hậu duệ của một người đầu bếp chánh cho cung đình, không phải xuất thân quyền quý hoàng tộc. Nhờ vào điểm đó tôi càng thấy được sự tế nhị trong phong cách sống của người xứ Huế thông qua những cử chỉ, những đối đãi đối với mình và mọi người.
 
Và trên hết, hôm nay nhân dịp năm mới, tôi thay mặt cho ban tổ chức buổi hội văn hóa Huế xưa chánh thức khai mạc phiên chợ Tết Gia Lạc 2012 trên quê hương Việt Nam. Mong rằng các bạn sẽ được ăn ngon, chơi vui, nghe nhạc hay, có được những món đồ chơi giữ làm may mắn cho năm mới và nhứt là thưởng thức được nhiều nét văn hóa cổ truyền đất thần kinh tưởng đã chìm vào dĩ vãng, nay sống lại sinh động nơi này qua sự khéo léo sắp đặt và tài hoa nghệ thuật từ các nghệ sĩ, nghệ nhân. Tôi hy vọng rằng, phiên chợ Gia Lạc sẽ thực sự đem đến “thêm nhiều niềm vui” cho các bạn trong năm Nhâm Thìn và để lại những ấn tượng đẹp với chúng ta.
 
GSTS TRẦN VĂN KHÊ
Bình Thạnh, 13.01.2012

(bài khai mạc có sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn: ký ức của bản thân sau 2 lần tham dự tại Đức & Pháp, từ nghệ nhân Hồ Thị Hoàng Anh và báo chí Việt Nam)


Posted by truongca on Jan 18, '12 2:00 AM for everyone
Lần đầu tiên tại Việt Nam kể từ năm 1945, phiên chợ Tết Gia Lạc (Thêm Niềm Vui) được phục dựng với tài nghệ của sứ giả văn hóa ẩm thực - Phật tử Hồ Thị Hoàng Anh.

BTN_0158.JPG

Hôm nay, từ 18g đến 22g, ngày 15-1-2012, không gian thượng tầng của tòa nhà Sailing Tower, quận 1, TP.HCM tối hôm nay trở nên lung linh khác thường. 

Ở giữa lưng chừng trời, màu sắc của các sản vật Tết Huế xưa được gọi về tụ hội, những không gian tái hiện thú tao nhã ngày xuân, góc đồ chơi trẻ con dân dã, vật dụng thường ngày giờ chỉ còn lưu trong ký ức, những món ăn Huế tinh tế... Tất cả gợi một không gian vừa quen vừa lạ, thiêng liêng phảng phất hương trầm... như thể đưa người tham dự trở về với quá khứ của một phiên chợ Tết mà ngày nay chỉ còn lại trong sử sách.

BTN_0006.JPG

Người tham dự được nghe GSTS.Trần Văn Khê, chị Hồ Thị Hoàng Anh nói về phiên chợ Gia Lạc, được nghe âm thanh rộn ràng của tiếng trống khai hội, những giai điệu da diết của âm nhạc Huế, được hòa vào tuổi thơ trong các trò chơi ngày Tết với sự điều khiển của nghệ sĩ Đức Tâm... 

Khách mời là đại diện các cơ quan ngoại giao, các nhà văn hóa, báo giới, nhà nghiên cứu, doanh nhân, thân hữu... Tất cả trở nên gần gũi với không gian của phiên chợ Tết Gia Lạc, được phục dựng một cách tài tình, tinh tế, công phu, giữa nào tranh dân gian, nào sắc màu mứt bánh, nét đồng quê, gánh hàng, góc trò chơi...

Được biết, đây là lần thứ ba chị Hồ Thị Hoàng Anh phục dựng Phiên chợ Tết Gia Lạc, hai lần trước được tổ chức tại Đức và Pháp. Lần thứ ba nhưng là lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.

BTN_0027.JPG

Không gian đón khách ở tầng thượng tầng của tòa nhà Sailing Tower


BTN_0013.JPG

Không gian gợi về ký ức Tết xưa

BTN_0138.JPG

với bánh mứt Tết

BTN_0143.JPG

Trang trí Tết nơi không gian phảng phất mùi trầm

BTN_0085-1.JPG

rôm rả câu chuyện bên chén trà nóng

BTN_0064-1.JPG

Bánh bài được giữ gìn trong một ngôi cổ tự ở cố đô

BTN_0133-1.JPG

Sắc màu mứt Tết

BTN_0129-1.JPG

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn trả lời báo giới về các vật dụng thời xưa

BTN_0137-1.JPG

BTN_0122-1.JPG

Giáo sư Trần Văn Khê giới thiệu về chợ Tết Gia Lạc

BTN_0121-1.JPG

BTN_0148.JPG

Chị Hoàng Anh nói thêm về phiên chợ Gia Lạc

BTN_0153.JPG

Vui nhộn việc mua và bán các món đồ chơi trẻ con xưa...

BTN_0157.JPG

GS.Trần Văn Khê khai mạc không gian trò chơi dân gian

BTN_0140.JPG

Cô hàng gánh trong phiên chợ Gia Lạc

BTN_0151.JPG

Không gian ngoài trời thượng tầng Sailing Tower

BTN_0089-1.JPG

BTN_0087.JPG

Tin: H.Độ - Ảnh: Bảo Toàn

(Theo Giác Ngộ online)



Posted by truongca on Jan 13, '12 1:54 AM for everyone
 TẾT THA HƯƠNG ĐẦU TIÊN
GSTS Trần Văn Khê


     Trong đời tôi, có lẽ chưa có cái Tết nào buồn hơn cái Tết đầu tiên tại Thành phố Paris hoa lệ năm 1950 khi tôi vừa rời đất nước.
Đang sống đầm ấm với vợ và ba con nhỏ tại Sài Gòn, hàng ngày vừa đi dạy tại nhiều trường tư thục vừa là cộng tác viên của hai tờ báo tên tuổi thời bấy giờ là Thần Chung và Việt Báo, hoàn cảnh đưa đẩy khiến tôi phải lìa xa quê hương, từ giã gia đình để một thân một mình sang tận trời Âu.
Khi mới sang Paris, tôi ở nhờ nhà cha mẹ của một người bạn Pháp là François Lebouteiller. Đang sống trong một biệt thự khang trang rộng rãi tại đường Monceau (Tân Định) ở Sài Gòn, những ngày đầu mới tới đây tôi tá túc trong căn phòng nhỏ xíu vỏn vẹn bốn mét vuông – vốn dành cho người giúp việc – tận trên tầng lầu thứ sáu một chung cư.
Vì vậy mà trong cái Tết đầu tiên nơi xứ lạ quê người, vào buổi chiều 30 cuối năm, tôi một mình ngồi cô đơn trong căn phòng vắng lặng, nhìn lên khung cửa sổ nhỏ trên nóc nhà chỉ thấy một khung trời xám xịt thê lương, tôi cảm nhận hết nỗi sầu chất ngất của cảnh đời tha hương và nhớ da diết từ đất nước, quê nhà đến những người thân yêu.
Tết Nguyên đán nhằm vào tháng hai dương lịch là thời điểm lạnh nhứt trong năm tại Paris. Trừ một số người tìm lên vùng núi nghỉ Đông để hưởng thú vui trượt tuyết, mọi người tại thành phố đều đi làm như bình thường.
Paris những ngày này ngoài đường phố thì tuyết giá ngập đầy, trên không bầu trời ảm đạm, trong công viên cây cối trụi lá, vườn cảnh không còn hoa… thì tìm đâu ra chút nắng hanh vàng, làm sao hưởng được ngọn gió Xuân phơi phới của miền Nam hay giọt mưa phùn lất phất của miền Bắc!


         Đêm giao thừa đầu tiên tại Paris, tôi mới qua không lâu chưa có dịp quen biết nhiều người Việt tại đây, lại sống trong một gia đình người Pháp chính gốc không hề quan tâm gì đến cái Tết của người Việt. May mà còn có anh bạn người Pháp của tôi.
François vốn từng tình nguyện sang Việt Nam, nghĩ rằng để tiếp tay cho đất nước mình “hồi phục thuộc địa”, nhưng sau khi có dịp làm quen với các em tôi là Trần Văn Trạch và Ngọc Sương trong một lần đến tiệm cà phê ca nhạc, qua đó gặp gỡ và quen biết với tôi. Và khi nghe tôi giải thích về phong trào Việt Minh chống lại sự chiếm đóng của người Pháp, anh không gia hạn thời kỳ tình nguyện nữa mà trở về Pháp và từ đó thường xuyên thư từ qua lại với tôi. Vốn có cảm tình với con người và đất nước Việt Nam nên khi về Pháp anh đem theo một lon đất để giữ làm kỷ niệm.
Thế là đêm giao thừa năm đó, tôi đang nằm buồn trong gian phòng nhỏ bé, anh François đến kéo tôi dậy và rủ tôi sang phòng riêng của anh, pha một bình trà, bày dĩa mứt gừng, đốt một cây nhang (tất cả đều mua từ Việt Nam) cắm vào lon đất mang về trước đây rồi hai anh em ngồi đối ẩm. François nhắc lại những bài hát tiếng Việt mà anh rất thích trong thời kỳ ở Việt Nam, còn tôi kể chuyện hai đứa em và gia đình mình cho anh nghe.
Rồi sau những giây phút được ấm lòng vì tình bạn, tôi trở về căn phòng lạnh lẽo trên tầng lầu thứ 6, nằm cô độc một mình mà thấm thía nỗi cô đơn.
Sáng mùng một, tôi khai đàn theo như thông lệ xưa nay, dạo mấy câu Nam Xuân thanh thản mà lòng da diết nhớ đến bao người thân yêu ở nơi xa xôi và không sao ngăn được giọt lệ.
Phải đợi tới bốn ngày sau, nhằm tối thứ bảy cuối tuần, mới là đêm kiều bào tổ chức ăn Tết đến khuya, vì hôm sau chủ nhựt mọi người không đi làm. Hội người Việt - lúc đó mang tên là Ái hữu Việt kiều - tổ chức đêm văn nghệ cho kiều bào tại phòng A nhà Maubert Mutualité có sức chứa hơn ngàn khán thính giả. Năm đó tiết mục chánh của chương trình là một vở hài kịch mà hai nhân vật chánh là một cặp chồng Việt vợ Pháp, tuy rất thương yêu nhau nhưng do bất đồng về ngôn ngữ và khác biệt về nếp sống mà xảy ra nhiều ngộ nhận cười ra nước mắt. Đây là một hài kịch “song ngữ” vừa nói tiếng Việt vừa chêm tiếng Pháp, tuy mục đích để giải trí nhưng cũng ngụ ý nhắc nhở các cặp vợ chồng Việt - Pháp cố gắng nhân nhượng nhau để có được hạnh phúc trong cuộc sống lứa đôi.
Tối hôm đó tôi nhận lời hát một bản nhạc trào phúng của Lê Thương tựa đề “Liên hiệp quốc” trong chương trình văn nghệ của Hội Ái hữu, sau đó lúc 09g30’ tôi phải rời nơi đây để có mặt ở  tiệm “Bồng Lai”, một hiệu ăn có ca nhạc giúp vui tại vùng Champs – Elysées. Đây là nơi tôi làm thêm vào hai đêm cuối tuần để kiếm sống, giới thiệu nhạc truyền thống Việt Nam, ca một bản nhạc dân ca và tiếp theo là một bài hát trào phúng bằng tiếng Pháp trong chương trình văn nghệ của nhà hàng.
Nhưng không ngờ chương trình của Hội Ái hữu Việt kiều đêm đó có sự trục trặc. Chị kịch sĩ nghiệp dư người Pháp do quá lo lắng nên uống chút rượu vang trước khi ra sân khấu để được tự tin, nhưng rồi có hơi quá chén nên lúc ra diễn thì quên hết lời đối thoại. Chị mất bình tĩnh đến độ khóc òa ngay trên sân khấu và không thể tiếp tục diễn tuồng được nữa. Màn hạ gấp trước sự sững sờ của hơn cả ngàn khán giả bên dưới !
Ban tổ chức hết sức bối rối, vì huy động được chừng đó kiều bào đến vui Tết không phải là dễ, giờ chẳng lẽ mọi người phải ra về! Nhứt là người Việt vốn thường kiêng kỵ, hễ đầu năm đầu tháng mà trục trặc như vậy coi như xui xẻo cả năm.
Lúc bấy giờ tôi vừa ra đến cửa ngoài thì gặp anh Phạm Huy Thông, Chủ tịch Hội Ái hữu Việt kiều, tất tả chạy đến nắm tay tôi và nói : “Tình hình đã vậy, chỉ còn biết trông cậy vào anh. Nhờ anh lên làm vài tiết mục để cho bà con được vui”.
 Tôi hết sức phân vân và lưỡng lự không muốn nhận lời. Bởi tôi biết tánh anh Tuyền, chủ hiệu ăn Bồng Lai, rất kỵ chuyện nghệ sĩ không đúng giờ. Tôi đã tận mắt chứng kiến có lần cô ca sĩ chánh của hiệu ăn chỉ đến chậm 15 phút, vậy mà anh Tuyền nhứt định không sắp cho hát mà yêu cầu cô ra về. Vì vậy nếu tôi nhận lời “cứu nguy” cho chương trình Tết của Việt kiều thì sẽ đến Bồng Lai rất muộn, không chỉ 15 phút mà có lẽ phải cả tiếng đồng hồ. Như vậy không chừng sẽ bị mất việc làm.
Nhưng trong hoàn cảnh bất khả kháng nầy thì lỡ có mất việc cũng đành chịu thôi, chớ không lẽ để mọi người phải ra về nửa chừng ! Vậy là tôi quay trở lên sân khấu. Cũng may trong dàn nhạc có em Võ Đức Lang (con của bạn tôi là nhạc sĩ Võ Đức Thu) biết tất cả những bài hát “tủ” của tôi nên đệm theo rất nhịp nhàng. Tôi hát một số bài thể theo yêu cầu, bày ra những cách đối thoại với khán giả, rồi tiếp theo kể chuyện vui … Trong một tiếng đồng hồ tôi ứng biến “hát cương” đủ màn trên sân khấu, trong khi bên dưới khán phòng khán giả cổ vũ tinh thần hoan hô từng chập. Và đến khi chấm dứt chương trình thì tiếng vỗ tay kéo dài đến độ tôi phải trở ra sân khấu chào ba bốn lượt.
Lúc đó đã gần 12 giờ khuya, tôi rời nhà hát vội vàng đến hiệu ăn Bồng Lai, chuẩn bị tinh thần sẽ đối diện với nét mặt nghiêm khắc của anh Tuyền lạnh lùng mời tôi ra về như trường hợp cô ca sĩ trước đây. Nhưng không ngờ tôi vừa bước vào nhà hàng, anh Tuyền đang ngồi uống rượu với rất đông bạn bè người Việt lật đật đứng dậy chạy đến bên tôi với nét mặt lo lắng : “Ủa, anh có bị gì không ? Xưa nay anh luôn đúng giờ nên hôm nay thấy anh đến trễ, tôi cứ lo anh bị tai nạn giao thông”. Tôi giải thích vắn tắt mấy câu lý do vì sao tôi đi trễ. Vậy là anh Tuyền vui vẻ mời tôi uống một ly rượu để chúc mừng việc tôi đã góp phần “cứu một bàn thua trông thấy” cho Hội Ái hữu Việt kiều. Rồi anh nhắc tôi : “Anh em đang chờ nghe anh đàn Tranh và giới thiệu nhạc dân tộc kìa”.
Tôi bước lên sân khấu nhỏ của nhà hàng vào đúng 12 giờ khuya. Đêm đó tôi đờn ca rất hào hứng vì có đồng bào người Việt chăm chú ngồi nghe, cũng vì cảm kích tấm lòng anh Tuyền đối với tôi như người bạn chớ không phải như với người làm công.
Giờ đây, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, tôi vẫn không quên cái Tết tha hương đầu tiên với nỗi buồn da diết nhớ quê nhà, cùng nỗi lo lắng bởi chương trình nghệ thuật đột xuất và sự tất bật “chạy sô” bất đắc dĩ trong cái đêm đáng nhớ ấy.


Posted by truongca on Jan 13, '12 1:23 AM for everyone
NGHE THÀY DIỄN GIẢI ÂM NHẠC DÂN TỘC

Kính tặng GSTS Trần Văn Khê


Hoa ngát hương chiều trên thế giới,
Đức tài hảo hán giữa trời cao.
Chúng em ngồi dự đều tâm phục,
Hạnh ngộ xem ra tự kiếp nào.

Thưa Thày:

Say Nhạc, lòng Thày không già,
Yêu tình con trẻ hơn là yêu xuân.
Chín mốt năm đã bao lần,
Thơ ca, nhạc điệu gieo vần muôn phương.
Thày đem bài toán vô thường,
Viết lên đáp số yêu thương cho đời.
Tôn vinh Thày chẳng hết lời,
Thoảng nghe đã thấy đất trời nở hoa.

Thày nói, Thày cười, Thày ngâm thơ khả kính,
Chúng em hân hoan thưởng thức trọn ân tình.
Trong chốc lát mà bao la tri thức,
Tiệc tinh thần Thày đãi quá linh đình.
Thật đáng kính và vô cùng trân trọng,
Lời của Thày như có cánh bay xa.
Nhưng chỉ tiếc em vốn nghèo ngôn ngữ,
Không vay đâu cho thêm vị đậm đà.

Em dốc cạn cả tấm lòng kính mến,
Viết đôi vần cho tâm thức thăng hoa.
Xin kính tặng Thày món quà chân thực,
Của nữ sinh Đồng Khánh một thời xa.

ĐÀM LÊ ĐỨC
Cựu nữ sinh Đồng Khánh niên khóa 1944 - 1945
Bình Thạnh ngày 04 tháng 12 năm 2011